Lưu trữ

Posts Tagged ‘Đường 9 – Nam Lào’

Phát triển cao của nghệ thuật giành và giữ quyền chủ động chiến dịch

Tháng Năm 25, 2011 Phản hồi đã bị khóa


Chiến dịch phản công Đường 9- Nam Lào

QĐND - Thực hiện mục tiêu “bóp nghẹt” cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam, Mỹ, ngụy mở “Cuộc hành quân Lam Sơn 719” đánh vào vùng Đường 9-Nam Lào. Đây là một trong ba cuộc tiến công quy mô lớn của địch nhằm đánh phá, cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta từ gốc, hủy diệt cơ sở hậu cần chiến lược và làm cho lực lượng vũ trang ta ở miền Nam suy yếu, không thể tập trung đánh lớn trong mùa khô năm 1971-1972, để Mỹ dễ dàng thực hiện kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, giành thế chủ động trên chiến trường.

Để đập tan mưu đồ đen tối của địch, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào, chiến dịch quy mô lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng nhằm tiêu diệt lớn quân địch, bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận chuyển chiến lược và hậu phương của ta, tạo điều kiện cho các chiến trường khác đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch và đánh phá “bình định” của chúng.

Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào diễn ra trong 52 ngày đêm (từ 30-1 đến 23-3-1971). Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược to lớn, làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng và cục diện chiến trường, tạo thời cơ, điều kiện để ta mở các chiến dịch tiến công tiêu diệt lớn quân địch, giải phóng từng vùng địa bàn chiến lược quan trọng, thúc đẩy tiến trình phát triển của cách mạng miền Nam. Thắng lợi của chiến dịch khẳng định sự trưởng thành mọi mặt của Quân đội ta, đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng, trong đó có nghệ thuật giành và giữ quyền chủ động chiến dịch.

Trước đối tượng tác chiến có quân số đông, hỏa lực mạnh, sức cơ động nhanh, nghệ thuật chiến dịch trong chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào đã giải quyết thành công nhiều vấn đề của việc giành và giữ quyền chủ động. Đó là, ta sớm nắm được ý định, phán đoán đúng hướng tiến công chiến lược của địch trong mùa khô năm 1970-1971, chủ động chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất; chỉ đạo chiến dịch tổ chức trinh sát thực địa, chuẩn bị chiến trường, xây dựng công sự trận địa phòng ngự, luyện tập phương án tác chiến, đồng thời từng bước cơ động triển khai và bố trí lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động đứng chân sẵn trên các khu vực kịp thời đón đánh địch. Ta đã chủ động xây dựng quyết tâm, kế hoạch tác chiến, lựa chọn đúng khu vực tác chiến chủ yếu, làm tốt việc giành quyền chủ động từ tay địch. Trên hình thái chung của chiến trường, ta không chọn đoạn từ Lao Bảo về phía Đông là khu vực tác chiến chủ yếu vì địa hình trống trải, gần các căn cứ lớn do quân ngụy và Mỹ phòng giữ. Nếu chọn khu vực này, khi ta tập trung lực lượng, binh khí kỹ thuật thì khó giữ bí mật, bất ngờ, dễ bị hỏa lực của địch sát thương và không có khả năng tiêu diệt lớn quân địch. Chiến dịch xác định đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông là khu vực tiêu diệt địch chủ yếu, địa hình khu vực này thuận lợi cho tác chiến hiệp đồng binh chủng, vừa đạt mục đích bảo vệ được các mục tiêu chiến dịch trọng yếu và vừa tiêu diệt lớn quân địch. Ta chủ động không chặn đứng quân địch ở Lao Bảo, để cho chúng vượt qua, tổ chức lực lượng ngăn chặn từng bước và phòng giữ chắc phía tây Bản Đông, kiên quyết không cho địch tiến lên đánh chiếm Sê Pôn. Sử dụng lực lượng tại chỗ ngăn chặn, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, tiêu diệt từng bộ phận, làm suy giảm sức tiến công của địch; đồng thời, sử dụng lực lượng cơ động tập trung đánh những trận then chốt, bẻ gãy cánh quân phía Bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía Nam, uy hiếp và bao vây cánh quân chủ yếu, đẩy địch từ thế chủ động ban đầu thành thế bị động, lúng túng, tiến không được, lật cánh, chuyển hướng cũng không thể thực hiện được mục đích hạn chế.

Trong Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào, Bộ tư lệnh chiến dịch đã dự đoán khá chính xác cả 4 tình huống cơ bản và xu thế phát triển của nó, nên đã chủ động sử dụng lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động, từng bước tạo thế chiến dịch có lợi, đưa địch vào mưu kế, thế trận đã chuẩn bị sẵn của ta; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật và thủ đoạn tác chiến, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự ngoan cường, vững chắc với tích cực chủ động tiến công, thực hành đánh những trận then chốt tiêu diệt lớn quân địch, buộc địch phải dừng lại phòng ngự trong thế bị cô lập, tinh thần hoang mang, phải bỏ lại toàn bộ xe pháo, vũ khí nặng luồn rừng rút chạy.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai, chiến dịch phản công là chiến dịch có chủ định, được tiến hành kế tiếp sau chiến dịch phòng ngự, có quan hệ chặt chẽ với tác chiến phòng thủ, phòng ngự trước đó. Ta có điều kiện chuẩn bị trước quyết tâm và phương án tác chiến, chuẩn bị một phần về lực lượng và thế trận từ trong thời bình; đó cũng chính là những yếu tố cơ bản để ta giành và giữ quyền chủ động chiến dịch. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo những giá trị lịch sử của nghệ thuật chiến dịch trong Chiến dịch phản công Đường 9- Nam Lào vào điều kiện tác chiến mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết.

Đại tá Hoàng Văn Quý

qdnd.vn

Nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa binh đoàn chủ lực với bộ đội địa phương trong Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào

Tháng Tư 12, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (từ ngày 30-1 đến 23-3-1971) là chiến dịch phản công (CDPC) có ý nghĩa chiến lược. Chiến dịch thắng lợi để lại nhiều bài học quý báu; trong đó, bài học về sự phối hợp tác chiến giữa binh đoàn chủ lực (BĐCL) với bộ đội địa phương (BĐĐP) là nổi bật nhất, thể hiện nét đặc sắc của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp kế hoạch tác chiến chuẩn bị cho chiến dịch đường 9 - Nam Lào (1971) (Ảnh tư liệu)

Trước những thắng lợi giòn giã, to lớn của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đầu năm 1971, Mỹ – nguỵ đã nỗ lực tổ chức một lực lượng lớn, bao gồm: các lực lượng dự bị chiến lược, lực lượng cơ động của Quân khu 1, tiếp vận trung ương của quân nguỵ với sự hỗ trợ lớn của bộ binh, thiết giáp, không quân Mỹ, mở “Cuộc hành quân Lam Sơn 719”, nhằm chặn đứng tuyến vận tải chiến lược của ta từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam. Về phía ta, tổ chức lực lượng tại chỗ bao gồm Mặt trận Đường số 9 (B5), Trị Thiên (B4); lực lượng của Đoàn 559 và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ; lực lượng cơ động là Binh đoàn 70 – một binh đoàn chiến dịch cấp quân đoàn đầu tiên lớn nhất của quân đội ta, gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2) và một số tiểu đoàn, trung đoàn xe tăng – thiết giáp, pháo binh, phòng không, công binh. Đây là bước phát triển mới về tổ chức lực lượng của bộ đội chủ lực ở giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiến dịch diễn ra ở vùng rừng núi biên giới Việt – Lào, thưa dân, lực lượng vũ trang địa phương nhỏ yếu, nơi nhạy cảm về chính trị, gần hậu phương của cả ta và địch. Với sự chủ động, nhạy bén của Bộ Tổng tư lệnh và Bộ tư lệnh chiến trường Nam Bộ (B2), ta đã tổ chức, sử dụng lực lượng Chiến dịch đúng đắn, nổi bật là sự phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả giữa BĐĐP và BĐCL trong quá trình thực hành Chiến dịch. Nhờ đó, Chiến dịch đã giành thắng lợi, hoàn thành mục tiêu đề ra: làm thất bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch, phát triển mạnh mẽ thế chiến lược tiến công không chỉ đối với cách mạng Việt Nam mà cả cách mạng ba nước Đông Dương.

Góp phần vào thắng lợi đó, trước hết, là việc xác định, đánh giá đúng vị trí vai trò, tác dụng, phát huy được sở trường, thế mạnh của mỗi lực lượng và mối quan hệ của chúng trong tổ chức, thực hành đánh bại quân địch tiến công; trong đó, BĐĐP giữ vị trí rất quan trọng trong việc tạo thế ta, phá thế địch, còn BĐCL đóng vai trò quyết định tiêu diệt lớn quân địch. Đây vừa là đặc điểm vừa là kết quả của việc quán triệt sâu sắc tư tưởng tích cực tiến công của ta, vừa để lập thế, tạo thời, thực hiện cách đánh của CDPC. Nhờ có lực lượng BĐĐP tổ chức các hoạt động tác chiến ngăn chặn kịp thời các mũi tiến công, đánh địch rộng khắp trên toàn địa bàn chiến dịch, buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó, cả phía trước, phía sau, bên sườn; cùng với đó, nghi binh, lừa địch vào những khu vực ta lựa chọn và chuẩn bị sẵn, tạo điều kiện cho BĐCL thực hiện đánh những trận then chốt (trận then chốt thứ nhất từ ngày 20 đến ngày 25-2, trận then chốt thứ 2 từ ngày 26-2 đến ngày 3-3) tiêu diệt, bẻ gãy từng mũi, từng cánh; nhất là trận then chốt quyết định (từ ngày 12 đến ngày 23-3) tiêu diệt tập đoàn chiến dịch chủ yếu của địch co cụm ở Bản Đông. Kết quả của Chiến dịch: ta đã tiêu diệt1, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của chúng, giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược.

Trong CDPC Đường 9 – Nam Lào, ở khu vực diễn ra trận đánh then chốt quyết định (Bản Đông), lực lượng BĐĐP của Đoàn 559 đảm nhiệm chiến đấu tại chỗ đã đạt hiệu suất rất cao, nhất là đơn vị phòng không 12,7 ly được bố trí dày đánh không quân địch từ nhiều hướng, đã bắn rơi 250 chiếc máy bay lên thẳng (chiếm 50% số máy bay lên thẳng bị bắn rơi trong Chiến dịch), một phương tiện cơ động chủ yếu của địch trong cuộc hành quân. Còn ở khu vực phía Đông, lực lượng của B5 cũng liên tục tổ chức đánh địch, phục kích giao thông (đường bộ, đường sông), tập kích vào căn cứ hậu cần, sở chỉ huy, gây cho địch nhiều tổn thất về sinh lực và phương tiện, buộc chúng phải phân tán, tăng thêm lực lượng để giữ phía sau. Ở phía Tây, lực lượng ta và bạn Lào đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn thuộc GM-30, GM-33, buộc chúng phải rút chạy về Xa-ra-van và Đồng Hến… Nhờ đó, Binh đoàn 70, lực lượng nòng cốt của Chiến dịch đang bố trí ở nam Quân khu 4 để sẵn sàng đánh địch theo các phương án dự kiến, nhưng khi được lệnh cơ động vào khu vực địa bàn Chiến dịch (cũng là lúc địch đã vượt qua biên giới – Lao Bảo và chiếm các điểm cao) đã tổ chức hành quân kịp thời triển khai đội hình đánh nhiều trận ác liệt với lữ dù 3, liên đoàn 1 biệt động và tập kích quân địch khi chúng vừa đổ quân chiếm các điểm cao… Điều đó càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của BĐĐP trong việc tạo thế và lực cho chiến dịch. Vì vậy, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định: trong CDPC vấn đề tổ chức, sử dụng và phối hợp chặt chẽ giữa BĐCL với BĐĐP là một sự cần thiết, có tính tất yếu; hai lực lượng này luôn có mối quan hệ tác động qua lại, dựa vào nhau, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhau để phát huy sức mạnh và khả năng tác chiến của mỗi bên, nhằm hoàn thành mục đích, nhiệm vụ của chiến dịch. Trong sự phối hợp đó, phải lấy lực lượng của BĐCL làm nòng cốt, đồng thời phát huy cao độ sức mạnh của BĐĐP.

Hai là, sự phối hợp tác chiến chặt chẽ phong phú, toàn diện không chỉ ở cấp độ chiến thuật, chiến dịch, mà có ý nghĩa chiến lược. Đó chính là sự kết hợp hai phương thức tiến hành chiến tranh của chiến tranh nhân dân trong phạm vi Chiến dịch, mà ở đây là CDPC. Chiến dịch đã giải quyết đúng đắn một loạt các mối quan hệ giữa đánh rộng khắp và đánh tập trung, đánh nhỏ, đánh vừa với đánh lớn, tiêu hao và tiêu diệt quân địch; kết hợp tốt các hình thức, biện pháp tác chiến chiến dịch với các hình thức chiến thuật; lấy tiến công, phản công là chủ yếu kết hợp với phòng ngự chiến thuật, chốt chặn, bao vây đột phá tiêu diệt địch với bảo vệ mục tiêu trọng yếu; tận dụng, khai thác và kết hợp hệ thống hậu cần – kỹ thuật, mạng đường giao thông, thông tin liên lạc tại chỗ có sẵn với chuẩn bị tích cực, trực tiếp của chiến dịch; phát huy thế mạnh và sở trường, khắc phục khó khăn của ta với hạn chế cái mạnh, khoét sâu điểm yếu, mâu thuẫn và khó khăn, sai lầm của địch… Đây là những vấn đề then chốt của nghệ thuật chiến dịch đã được vận dụng để giành thắng lợi trong Chiến dịch này.

Nhờ sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ có hiệu quả giữa BĐCL và BĐĐP trong suốt quá trình CDPC, nên Chiến dịch cũng đã giải quyết được các điều kiện và yêu cầu của cấp chiến lược đặt ra cho Chiến dịch, đó là: phải giành quyền chủ động, sớm phá vỡ ý định tiến công của địch, buộc chúng phải hành động theo cách đánh của ta. Ý định chiến dịch xác định ban đầu là không quyết chiến với địch từ Lao Bảo về phía Đông, mà tập trung lực lượng tiến hành những trận tiêu diệt lớn các cụm quân chủ yếu của địch trong khu vực từ biên giới ở Lao Bảo đến Bản Đông, chặn đứng chúng ở lòng chảo Bản Đông và kiên quyết không cho chúng vào Sê Pôn để bảo đảm tuyến vận chuyển chiến lược của ta không bị gián đoạn. Thực tế Chiến dịch đã diễn ra đúng như vậy. Còn phía địch, trong kế hoạch hành quân, phương án hành động của chúng là sử dụng sức mạnh tổng lực của bộ binh, xe tăng, máy bay… thực hành đánh nhanh, giải quyết nhanh, đánh áp đảo và đè bẹp BĐĐP của ta, đánh chiếm xong mục tiêu chiến dịch trước khi BĐCL ta đến khu giao chiến (địch dự kiến sau 15 ngày tiến công của chúng thì BĐCL ta mới đến được Đường số 9). Thế nhưng, thực tế đã không diễn ra theo dự tính của chúng, do lực lượng BĐĐP của ta chặn đánh địch rất mạnh và có hiệu quả, đã tạo điều kiện thuận lợi cho BĐCL tổ chức hành quân, triển khai tiến công địch kịp thời, làm cho địch hoàn toàn bị động lúng túng đối phó.

Ba là, sự phối hợp tác chiến chặt chẽ đã gây cho địch những lúng túng, bất ngờ không những về không gian, thời gian, mà đội hình, thế trận và tổ chức hiệp đồng của chúng cũng bị phá vỡ. Địch bị chia cắt không những phía trước với phía sau, giữa các hướng, các mũi, giữa bộ binh với xe tăng, lực lượng tiến công đường bộ với lực lượng đổ bộ đường không, giữa quân ngụy Sài Gòn với quân ngụy Lào ở phía Tây với quân Mỹ ở phía Đông; không những vậy mà ta còn chặn đứng mọi khả năng chi viện, tiếp tế hậu cần, kỹ thuật và lực lượng kể cả bằng đường không – một trong những thế mạnh của chúng, cô lập từng bộ phận ở các khu vực khác nhau… Ta đã làm cho kế hoạch tác chiến của chúng bị đảo lộn, buộc phải đưa thê đội 2 vào chiến đấu sớm và chuyển hướng tiến công về phía Nam để mở đường lên Sê Pôn, nhưng chúng vẫn không thực hiện được một mục tiêu nào kể cả trong kế hoạch cũng như phương án bổ sung của cuộc hành quân.

Chính sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa BĐCL với BĐĐP theo một ý định và kế hoạch chiến dịch thống nhất từ cấp chiến dịch đến cấp chiến thuật, nên các lực lượng của ta trong CDPC Đường 9 – Nam Lào càng đánh càng mạnh, giành quyền chủ động nhanh, lần lượt bẻ gãy cánh Bắc, đánh thiệt hại cánh Nam, tiêu diệt quân địch trên hướng chủ yếu, kết thúc Chiến dịch thắng lợi. Ngược lại, địch đã vấp phải sự đánh trả quyết liệt của ta ngay từ khi bắt đầu cuộc hành quân, vì thế mà lúng túng, mất dần quyền chủ động, rơi vào thế bị động chống đỡ, suy yếu và thất bại thảm hại.

Ngày nay, nếu chiến tranh xâm lược xảy ra đối với nước ta, địch sẽ mở các chiến dịch tiến công quy mô lớn, phạm vi rộng, thực hiện đánh ác liệt trong thời gian ngắn nhằm đạt được mục đích chính trị của cuộc chiến tranh. Do vậy, ngay trong thời bình, chúng ta phải tập trung đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, trên từng địa bàn, từng hướng chiến lược; đồng thời, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân phát triển, để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của các lực lượng, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt đánh bại chiến dịch tiến công của chúng. Vì thế, cần tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, có cơ cấu cân đối, hợp lý; trong đó, tập trung xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; đồng thời, phải tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu phát triển nền khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự hiện đại của chiến tranh nhân dân Việt Nam lên tầm cao mới. Cùng với đó, coi trọng tổ chức diễn tập các cấp, nhất là trên các địa bàn chiến lược, khu vực phòng thủ, nhằm nâng cao khả năng hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng vũ trang địa phương với các đơn vị bộ đội chủ lực của các quân khu, Bộ trong các loại hình chiến dịch, trong đó có CDPC.

Bài học về sự phối hợp tác chiến giữa BĐCL với BĐĐP trong CDPC Đường 9 – Nam Lào vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Đại tá, PGS, TS. DƯƠNG ĐÌNH QUẢNG
Học viện Quốc phòng

__________

1- Quân địch: chết và bị thương 20.850, bị bắt 1.142; bị diệt: 3 lữ đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, bị bắn rơi 556 máy bay, bị phá huỷ 43 tàu xuồng, xà lan, 1.138 xe cơ giới, 112 khẩu pháo, cối, 25 kho.

- Quân ta thu: 2 máy bay lên thẳng, 24 xe các loại, 57 khẩu pháo, 24 cối, 7 khẩu DKZ…

Sư đoàn 2 trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào (Kỳ 2)

Tháng Tư 3, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Kỳ II: Đánh quỵ sư đoàn 1 ngụy

QĐND – Sau khi triển khai chiếm lĩnh xong khu vực tập kết, ngày 8-2, được sự yểm trợ của hỏa lực Mỹ, 7 trung đoàn bộ binh, dù và thiết giáp ngụy hình thành 3 cánh quân vượt biên giới Việt-Lào. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9 lên Bản Đông. Hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng chiếm một loạt các điểm cao ở Nam Bắc Đường 9, lập các căn cứ, hỏa lực bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu. Trên khu vực phía Bắc Đường 9, tuy bị lực lượng tại chỗ, nhất là phòng không của ta đánh trả quyết liệt nhưng lữ đoàn 3 dù và liên đoàn biệt động 2 địch cũng đổ được quân xuống các điểm cao 500, 316, 655, 543, 456 lập các căn cứ hỏa lực. Trên khu vực phía Nam, sư đoàn 1 bộ binh địch (thiếu) chiếm khu vực Cô Bốc và các điểm cao 619, 537, 550, 532, 540. Quân ngụy Lào phối hợp hoạt động ở Tây Đường 9, đưa 2 binh đoàn (GM 30 và GM 339 gồm 9 tiểu đoàn) đánh ra khu vực Mường Pha Lan.

Ngay từ khi địch tiến công, Đoàn 559 đã tổ chức các chốt ngăn chặn ở Cô Bốc, Cô Rốc, các điểm cao 660, 723; Trung đoàn 24 tổ chức chốt ở điểm cao 351, cầu Cha Ky; Sư đoàn 308 tổ chức chốt ở điểm cao 311; lực lượng của B5 và đặc công hải quân đánh chìm 9 tàu chở vũ khí của địch ở Xuân Khánh, Vinh Quang, phục kích địch ở Bông Kho, Đầu Màu, tập kích địch ở Kế Sóc, Ba Lào… Tiếp đó, trên hướng chủ yếu Binh đoàn 70 đã phản công đánh tan cánh quân chủ yếu của địch ở phía Bắc Đường 9. Đặc biệt, từ ngày 19 đến 25-2, Trung đoàn bộ binh 64 cùng Trung đoàn pháo 45 và một đại đội xe tăng đã thực hiện thành công trận then chốt tiêu diệt căn cứ 31 của địch ở điểm cao 543, xóa sổ lữ đoàn 3 dù, bắt sống Đại tá Thọ và ban tham mưu lữ đoàn.

Bị chặn đánh cả ở phía trước, phía sau và 2 bên sườn, nhất là cánh quân phía Bắc Đường 9 bị tiêu diệt, địch đưa thê đội 2 vào chiến đấu, chuyển cánh quân phía Nam Đường 9 thành cánh quân chủ yếu tiến lên Sê Pôn. Ngày 4-3, sư đoàn 1 ngụy đổ quân xuống chiếm các cao điểm 660, 723, 748 làm bàn đạp chiếm Sê Pôn. Trong đó, Trung đoàn 1 ở điểm cao 723, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 ở các điểm cao 660, 462 và 651.

Các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy mặt trận Đường 9 – Nam Lào xem xét phương án tác chiến. Ảnh tư liệu.

Quyết tâm bẻ gãy cánh quân phía Nam, tiêu diệt sư đoàn 1 địch, không cho chúng tiến lên Sê Pôn, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 2 (thiếu Trung đoàn 31) được tăng cường 1 tiểu đoàn (Trung đoàn 48, Sư đoàn 320), Trung đoàn pháo binh 368 thực hiện trận then chốt tiêu diệt trung đoàn 1 ngụy ở điểm cao 723, tiếp theo là trung đoàn 2 ở các điểm cao 660, 462.

Điểm cao 723 nằm trong dãy Phu Rệp, phía Nam Đường 9 và sông Sê Pôn, cách Lao Bảo khoảng 15km về phía Tây. Điểm cao nằm trên trục đường vận tải chiến lược 559, gần dốc Nguyễn Chí Thanh nổi tiếng mà các đơn vị hành quân bộ vào Nam đều phải đi qua. 723 là một điểm cao đột xuất, có thể khống chế từ Sê Pôn xuôi về phía Đông đến ngã t­ư Bản Đông.

Kế hoạch ban đầu đánh 723 là dùng sức mạnh hiệp đồng binh chủng của cả sư đoàn được hỏa lực của chiến dịch chi viện tiến công địch. Sau khi đi trinh sát, nghiên cứu lại, tôi thấy đánh theo phương án này có nhiều bất lợi. Địch ở trên cao, lại có hệ thống công sự, trận địa khá kiên cố nên ta tiến công sẽ rất khó khăn và tốn nhiều vật chất, lực lượng. Mặt khác, qua tin trinh sát tôi thấy địch đang muốn tiến về Sê Pôn, nên đề xuất phương án mới: Đánh ép mặt trước, buộc địch phải rời công sự, kéo về Sê Pôn; ta sẽ dùng 6 tiểu đoàn thực hiện bao vây, đón lõng dọc đường địch hành quân để đánh địch ngoài công sự, tiêu diệt toàn bộ trung đoàn địch. Phương án mới được Đảng ủy Sư đoàn và Bộ tư­ lệnh chiến dịch chấp nhận.

Thực hiện theo phương án trên, Sư đoàn 2 sử dụng Tiểu đoàn 10 đặc công và Tiểu đoàn 15 công binh đón lõng ở phía Đông Bắc điểm cao 723. Trung đoàn 141 vây lấn từ phía Nam lên. Trung đoàn Ba Gia (được tăng cường Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48) vây lấn từ phía Tây và Tây Nam. Hai trung đoàn này sẵn sàng cơ động lực lượng tiêu diệt địch trong khu vực dự kiến ở thung lũng phía Đông Bắc điểm cao 723.

Đêm 8-3-1971, các lực lượng bao vây, đón lõng bắt đầu triển khai chiếm lĩnh trận địa. Sau khi hình thành thế bao vây, Sư đoàn tăng sức ép cả bằng hỏa lực và xung lực đối với trung đoàn 1 ngụy, đồng thời khống chế chặt chẽ đường không, cắt tiếp tế của địch cho 723. Trong các ngày 13, 14, 15 tháng 3, các loại hỏa lực của ta từ cối 82mm, ĐKZ 75, pháo Đ74, cối 160… liên tục bắn vào 723. Pháo phòng không của Sư đoàn và chiến dịch cắt đứt đường không, không một máy bay trực thăng nào của địch tới được 723. Ngày 15-3, phát hiện địch có triệu chứng rút quân. Ngay trong đêm 15, tôi triệu tập Thư­ờng vụ Đảng ủy hạ quyết tâm diệt trung đoàn 1 ngụy, đồng thời lệnh cho Tiểu đoàn 15 công binh nới vây để địch rút về Sê Pôn, đôn đốc các đơn vị bao vây đón lõng nắm chắc địch, không được bỏ lỡ thời cơ diệt địch.

Vòng vây nới lỏng, sáng 16-3 địch bắt đầu rút khỏi 723 theo hướng Tây-Bắc lên Sê Pôn. Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 141 được lệnh lên chiếm lĩnh 723 để đánh vào phía sau địch. Pháo binh được lệnh bắn chặn các ngả đường buộc địch phải dồn vào khu vực ta có lực lượng đón sẵn. Theo kế hoạch, đợt bắn phá này pháo chiến dịch chỉ bắn 500 quả. Song trước thời cơ diệt gọn cả trung đoàn địch, Sư đoàn đã đề nghị bắn 1000 quả và được chấp nhận nên mật độ pháo khá lớn, quân địch buộc phải đi vào các khu vực sư đoàn đã dự kiến. Khi pháo ngừng bắn, các tiểu đoàn bộ binh được lệnh đồng loạt bám sát địch, thực hành tiến công, chia cắt để tiêu diệt từng cụm địch.

Quân địch thoát ly công sự, lại bị ta tiến công từ cả bên sườn phía sau nên hoang mang ngay từ đầu. Máy bay địch liều mạng vượt qua l­ưới lửa phòng không của ta đến ném bom chi viện cho bộ binh. Bom na-pan, bom phá, bom sát thương nổ dữ dội. Cả khu rừng khói bụi, lửa cháy mù mịt, song bộ đội vẫn dũng cảm bao vây, chia cắt tiêu diệt từng cụm quân địch. Đến 11 giờ ngày 16-3, vòng vây của ta đã xiết chặt và tiểu đoàn 1 của địch đã bị tiêu diệt hoàn toàn, các tiểu đoàn khác của trung đoàn 1 ngụy ở vào tình trạng hoang mang dao động, tinh thần rệu rã.

Để vừa tiêu diệt được toàn bộ trung đoàn 1, vừa không để trung đoàn 2 ngụy đang ở cao điểm 660 có cơ hội chạy thoát, Thường vụ Sư đoàn đã táo bạo quyết định đưa một phần lực lượng sang vây ép 660, lực lượng còn lại nhanh chóng tiêu diệt trung đoàn 1 ngụy rồi chuyển sang cùng các đơn vị vây ép, tiêu diệt địch ở cao điểm 660.

Các đơn vị đã nghiêm chỉnh thực hiện quyết định mới của Sư đoàn. Trung đoàn 141, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn Ba Gia cùng các tiểu đoàn đặc công, công binh xốc lại lực lượng, áp sát đội hình địch, tiến công mãnh liệt vào các cụm quân địch còn lại dư­ới chân 723. Cùng lúc, Trung đoàn Ba Gia (thiếu Tiểu đoàn 40) cùng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 và một bộ phận hỏa lực nhanh chóng vận động sang vây ép trung đoàn 2 ngụy ở điểm cao 660.

14 giờ ngày 16-3, trận chiến đấu ở khu vực 723 tiếp tục. Bộ đội ta từ các hướng xung phong mãnh liệt tiêu diệt trung đoàn 1 ngụy. Từ phía Tây, Trung đoàn 141 đánh xuống. Từ hướng Đông Bắc, Tiểu đoàn 40 Trung đoàn Ba Gia đánh vào. Từ hướng Đông – Nam, Tiểu đoàn Đặc công và Tiểu đoàn 15 công binh đánh thốc lên. Trước sức tiến công liên tục của bộ đội ta, trung đoàn 1 ngụy dần tan rã hoàn toàn và bị tiêu diệt. 10 giờ 30 phút ngày 17-3, sở chỉ huy trung đoàn 1 bị tiêu diệt, đại tá trung đoàn trưởng đã bị bắn chết từ trước đó, trận đánh ở khu vực 723 kết thúc. Ta diệt và bắt sống 1.700 tên, bắn rơi nhiều máy bay, thu hàng trăm vũ khí và nhiều phương tiện, quân trang, quân dụng.

723 bị diệt làm binh lính trung đoàn 2 ngụy ở 660 hết sức hoang mang. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt bọn cầm đầu cuộc hành quân của Mỹ ngụy cho trung đoàn 2 tháo chạy. Song quyết định tháo chạy của địch đã quá muộn. Trung đoàn Ba Gia đã cố gắng vượt bậc, vượt qua bom đạn và sự mệt nhọc, chạy thi với thời gian, đến được 660 và xiết chặt vòng vây trước khi quân địch nhận được lệnh tháo chạy. Cả trung đoàn địch cố tìm đường chạy nhưng đến đâu cũng gặp các chiến sĩ của Trung đoàn Ba Gia chặn đánh. Đêm 20-3, sau khi hội ý với Chính ủy Nguyễn Tá, Trung đoàn trưởng Trần Quang Lập quyết định đưa Tiểu đoàn 40 vừa mới từ 723 về, phối hợp với Đại đội 7, Tiểu đoàn 60 hình thành hai mũi tiến công vào cụm quân địch. 3 giờ 30 phút ngày 21-3, trận tiến công dứt điểm trung đoàn 2 ngụy bắt đầu. Sau một loạt pháo chuẩn bị, bộ đội ta đồng loạt xung phong. Tiểu đội trưởng Nguyễn Ngọc Lũy cùng tiểu đội đánh thốc ngang đội hình địch, diệt và bắt 50 tên. Mũi tiến khác, có sự tham gia của Nguyễn Khắc Hoàng, trận đầu ở 723 đã diệt 16 tên, trận này lại cùng đồng đội đánh thẳng vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch, bắt sống tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Nguyễn Xuân Huy. Ngày 21-3, sau hơn ba ngày chiến đấu liên tục Trung đoàn Ba Gia gần như­ xóa sổ trung đoàn 2 ngụy, diệt và bắt sống gần 1.300 tên, thu 4 khẩu pháo 105mm, 54 máy PRC 25, bắn rơi 36 máy bay.

Ngày 23-3-1971, sau khi giải phóng bản Đông, chiến dịch phản công Đư­ờng 9 – Nam Lào kết thúc. Trong chiến dịch, Sư đoàn 2 đã đánh thắng hai trận lớn, tiêu diệt trung đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng trung đoàn 2, như vậy, đã đánh quỵ sư đoàn 1 ngụy. Chiến công của Sư đoàn đánh dấu một bước tiến bộ mới rất quan trọng của Sư đoàn và góp phần rất xứng đáng vào thắng lợi rất to lớn của chiến dịch lịch sử Đường 9 – Nam Lào mùa Xuân năm 1971.

Đại tá Phạm Hữu Thắng (Ghi theo lời kể của Thượng tướng NGUYỄN CHƠN)

Kỳ 1:  Sư đoàn 2 trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào

Sư đoàn 2 trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào (Kỳ 1)

Tháng Tư 3, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Sư đoàn 2 là đơn vị chủ lực của Quân khu 5, thường xuyên chiến đấu trên chiến trường Khu 5. Tháng 6-1970, sư đoàn được cấp trên giao nhiệm vụ củng cố lực lượng, xây dựng đơn vị, phối hợp với các đơn vị tham gia chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào. Kỷ niệm 40 năm chiến thắng Đường 9-Nam Lào, viết lại hoạt động của Sư đoàn 2 trong thời kỳ này để chúng ta thấy được tầm nhìn xa của Quân  ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh cũng như tinh thần, lòng dũng cảm, sự sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ sư đoàn.

Kỳ I: Chuẩn bị cho trận đánh lớn

Ngay từ giữa năm 1970, phán đoán địch sẽ mở các cuộc hành quân lớn ra vùng Trung Lào, Hạ Lào, Ngã ba biên giới và Đông Bắc Cam-pu-chia, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo các chiến trường điều chỉnh lực lượng, xây dựng kế hoạch tác chiến, chuẩn bị vật chất, thiết bị chiến trường, phối hợp với bạn Lào sẵn sàng đánh địch.

Đang chiến đấu trên chiến trường Khu 5, ngày 10-6-1970, Sư đoàn 2 nhận lệnh hành quân ra bắc Đường 9 nhận nhiệm vụ mới. Một nhiệm vụ thật đột ngột khó tin. Sư đoàn 2 là đơn vị chủ lực của Quân khu 5, sao lại hành quân ra tận bắc Đường 9. Bộ Tư lệnh Sư đoàn cho rằng: Cơ yếu dịch điện nhầm nên điện hỏi lại Quân khu. Từ đầu dây bên kia, Tư lệnh Quân khu trả lời dứt khoát: “Đó là mệnh lệnh, hãy nghiêm chỉnh chấp hành. Không hỏi lại!”.

Cuối tháng 6-1970, sư đoàn bắt đầu hành quân. Trung đoàn 141 được điều về đội hình của sư đoàn, thay cho Trung đoàn 21 tiếp tục đứng chân chiến đấu ở Quảng Ngãi. Đến Binh trạm 61, sư đoàn được lệnh bàn giao lại toàn bộ vũ khí nặng và đạn dược, sau đó theo Đường 559 Tây Trường Sơn hành quân ra phía Bắc. Sau hơn một tháng hành quân, đến giữa tháng 8, toàn bộ sư đoàn đã tập kết ở vùng rừng núi bắc Đường 9, thuộc huyện Mường Phìn, tỉnh Khăm Muộn (Lào).

Hội nghị bàn và quyết định phương án tác chiến trong Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Ảnh tư liệu.

Tháng 9, sư đoàn được bổ sung quân số. Lớp chiến sĩ mới đợt này có trình độ văn hóa cao, phần lớn tốt nghiệp phổ thông cấp 3, có nhiều đồng chí là sinh viên các trường đại học, cao đẳng. Các tiểu đoàn đã đủ quân (hơn 500 quân), trung đoàn có hơn 2000 quân. Vũ khí, trang bị được trang bị mới, đầy đủ và khá hiện đại.

Thời gian này trên cương vị sư đoàn phó, tôi cùng một số cán bộ sư đoàn ra Bắc dự lớp tập huấn cán bộ quân khu, binh chủng, sư đoàn trong toàn quân do Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tổ chức. Ngày 24-8-1970, lớp tập huấn khai mạc. Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp đến phát biểu chỉ đạo lớp tập huấn, xác định: Đợt tập huấn này phải xác định tư tưởng đánh tập trung, hợp đồng binh chủng; phải đánh lớn, thắng to, đánh tiêu diệt trung đoàn, chiến đoàn, sư đoàn địch…

Trong những ngày tôi đi tập huấn ở miền Bắc, Sư đoàn trưởng Hoàng Anh Tuấn cùng một số cán bộ từ đại đội trưởng trở lên đi trinh sát thực địa dọc tuyến Đường 9, từ Bản Đông đến Sê Pôn, Tha Mê… để nghiên cứu địa hình trên thực địa và lập phương án đánh địch theo kế hoạch của cấp trên. Đoàn cán bộ đối chiếu với bản đồ hầu hết các điểm cao, đồi trọc, khe suối trong khu vực; chọn khu vực đặt trận địa hỏa lực và đo đạc phần tử xạ kích cho các trận địa.

Cũng thời gian này, sư đoàn sôi nổi bước vào đợt huấn luyện quân sự, chính trị tương đối chính quy. Bộ Tổng tham mưu trực tiếp vạch kế hoạch và chỉ đạo. Trường Sĩ quan Lục quân cử một đoàn cán bộ giúp sư đoàn tổ chức và thực hành huấn luyện. Một số đơn vị pháo binh, cao xạ, xe tăng cũng được lệnh của Bộ đến phối hợp tập luyện với sư đoàn. Đây là lần đầu tiên sư đoàn được huấn luyện chiến thuật, chiến dịch có hiệp đồng binh chủng, với vũ khí trang bị hiện đại. Một số cán bộ tiểu đoàn có tư tưởng cho rằng, ra Bắc là để nghỉ ngơi nên tổ chức huấn luyện còn đơn giản. Song cán bộ sư đoàn đã sớm kiểm tra, phát hiện và kiên quyết yêu cầu các đơn vị phải xây dựng bãi tập đúng yêu cầu, bảo đảm huấn luyện có chất lượng.

Trinh sát nghiên cứu địa hình và huấn luyện đơn vị là việc làm thường xuyên của bất kỳ người chỉ huy nào trong chiến trận, song đối với Sư đoàn 2 đợt này thực sự là đợt có ý nghĩa trước khi bước vào trận đánh lớn hiệp đồng binh chủng trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào.

Tháng 12-1970, đồng chí Hoàng Anh Tuấn, Sư đoàn trưởng được điều động về làm Tham mưu trưởng Quân khu 5, tôi được trên đề bạt làm Sư đoàn trưởng. Trung đoàn 31 hành quân trở lại chiến trường Tây Nguyên. Ngày 21-1-1971, khi mà địch chưa mở cuộc hành quân thì Sư đoàn 2 nhận được lệnh của Bộ: “Triển khai đội hình chiến đấu, sẵn sàng đánh địch đổ bộ trong khu vực từ Bản Đông đến Sê Pôn. Nhiệm vụ của sư đoàn là diệt nhiều sinh lực địch, bắn rơi nhiều máy bay, bảo vệ vững chắc đường vận chuyển chiến lược…”.

Như vậy, trước khi tham gia trận đánh lớn, Sư đoàn 2 đã có sự chuẩn bị rất chu đáo về mọi mặt như: Được bổ sung quân số, trang bị; được huấn luyện về tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng; được nghiên cứu địa hình từ trước khi địch đến và hoàn toàn chủ động đón đánh cuộc tiến công của địch ở địa hình có lợi.

Qua việc Bộ chuẩn bị cho Sư đoàn 2 và sau này nghiên cứu, tôi càng thấy sự chủ động, tầm nhìn xa của Quân ủy Trung ương và Tổng Tư lệnh trong việc chuẩn bị cho chiến dịch Đường 9- Nam Lào cũng như cho việc tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng lớn của quân đội ta.

Đầu năm 1970, Bộ tổng Tham mưu dự kiến địch sẽ tiến công chia cắt chiến lược trên 3 hướng: Một là Đường 9-Nam Lào, cắt đoạn Bản Đông-Sê Pôn; hai là, phản công ra vùng Ngã ba biên giới và Hạ Lào; ba là, phản công sang Cam-pu-chia. Trong đó, Đường 9-Bản Đông-Sê Pôn là hướng chủ yếu, địch hy vọng cắt ta từ “cuống họng”, chặn nguồn chi viện tiếp tế từ “đầu nguồn”. Từ nhận định trên, trên hướng Đường 9-Nam Lào, Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương xác định: Đây là địa bàn gần miền Bắc, có nhiều kho dự trữ chiến lược, ta có điều kiện phát huy sức mạnh của các đơn vị chủ lực, tập dượt chiến đấu hiệp đồng binh chủng và giao cho Bộ tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy, điều hành chiến dịch phản công với lực lượng binh chủng hợp thành nhằm giành thắng lợi lớn, đánh bại bước đầu chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ.

Do vậy, từ tháng 3-1970, Cục Tác chiến đã bắt tay vào chuẩn bị kế hoạch chiến dịch, chủ yếu là nhận định tình hình, dự kiến sử dụng lực lượng trên các hướng, chuẩn bị hậu cần-kỹ thuật. Tháng 10, hoàn thành tổ chức binh đoàn chiến dịch B70, gồm các sư đoàn: 308, 304, 320 và một số đơn vị binh chủng (đây là lần đầu tiên ta hình thành tổ chức binh đoàn chiến dịch, tương đương quân đoàn). Tiếp đó, Bộ đã cử đoàn cán bộ có các đồng chí: Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Hoàng Nghĩa Khánh, Cục phó Cục Tác chiến vào Bộ Tư lệnh 559 và một số đơn vị phía Nam để phổ biến ý định của Quân ủy Trung ương và công việc chuẩn bị chiến trường trên Đường 559, đồng thời trực tiếp thu thập các ý kiến từ chiến trường.

Tháng 11-1970, kế hoạch chiến dịch được Quân ủy Trung ương thông qua lần đầu, sau đó bổ sung và thông qua chính thức vào tháng 12-1970. Tiếp đó, Quân ủy quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch do đồng chí Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn làm tư lệnh, đồng chí Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Đạo làm Chính ủy, đồng chí Cao Văn Khánh làm Phó tư lệnh chiến dịch, chỉ huy Binh đoàn 70.

Quân ủy Trung ương nhấn mạnh: Đây là chiến dịch có ý nghĩa quyết định về chiến lược và do Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp tổ chức và chỉ huy đầu tiên ở phía Nam nên nhất định phải đánh thắng; phải nhân cơ hội này mà rèn luyện bộ đội chủ lực trưởng thành lên một bước mới trong tác chiến tập trung đánh lớn, hiệp đồng binh chủng.

Về tổ chức lực lượng, Bộ Tổng Tham mưu xác định: Lực lượng ngăn chặn, tạo thế gồm Trung đoàn 24, Sư đoàn 304 và các đơn vị tại chỗ của Đoàn 559; Cụm lực lượng trên hướng chủ yếu phía bắc gồm Binh đoàn 70 (thiếu) và phần lớn xe tăng, pháo binh chiến dịch; Cụm lực lượng trên hướng thứ yếu phía nam gồm: Sư đoàn 324 (thiếu), Sư đoàn 2 và một bộ phận pháo binh, xe tăng, phòng không chiến dịch; Lực lượng đánh địch ở phía sau gồm lực lượng tại chỗ của B5, một số tiểu đoàn đặc công Bộ, Trung đoàn pháo binh 84 và Trung đoàn 2 Sư đoàn 324; Lực lượng đánh địch trên hướng phối hợp ở phía tây có Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 và lực lượng tại chỗ. Cho đến trước ngày địch mở cuộc hành quân lớn, mọi công tác chuẩn bị của ta từ cấp chiến lược đến các đơn vị đã cơ bản hoàn thành.

Trước giờ nổ súng chiến dịch, tôi nhận được điện trực tiếp của đồng chí Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh bộ đội Trường Sơn hỏi về tình hình đạn dược, lương thực, thông tin đã bảo đảm chưa? Tôi vui mừng báo cáo: Bộ đội Trường Sơn đã bảo đảm cho sư đoàn đầy đủ. Nhất định chúng tôi sẽ đánh thắng! Bên kia đầu dây, giọng đồng chí Tư lệnh trầm ấm động viên: Phải kiên quyết chặn đứng, bao vây, tiêu diệt không cho địch có đường về! Chúc Sư đoàn 2 giành thắng lợi.

Ngày 31-1-1971, Mỹ và quân nguỵ Sài Gòn bắt đầu cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh ra Đường 9-Nam Lào. Chúng đã huy động một lực lượng khổng lồ gồm hơn 40.000 quân nguỵ Sài Gòn, hơn 6000 quân Mỹ, với một lực lượng không quân, xe tăng, thiết giáp, pháo binh yểm trợ(*), hùng hổ đổ quân đánh chiếm các điểm cao dọc theo Đường 9, hy vọng nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ Đư­ờng số 9 đoạn Bản Đông-Sê Pôn lập thành tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, đe dọa miền Bắc Việt Nam, uy hiếp cách mạng Lào và bịt được ”con đường sống” của ta vào chiến trường miền Nam.

Tuy nhiên, địch không ngờ rằng chúng đang lọt vào thế trận đã giăng sẵn của ta. Các lực lượng tham gia chiến dịch được chuẩn bị kỹ càng đang chủ động chờ chúng “chui đầu vào rọ” để tổ chức những trận đánh lớn, mang tính quyết định.

Kỳ II: Đánh quỵ sư đoàn 1 ngụy

(*Lực l­ượng địch trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất là 55.000 quân, gồm 15 trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn thiết giáp, 578 xe tăng, xe bọc thép, 318 pháo, 700 máy bay các loại. Ngoài ra còn có hai binh đoàn quân nguỵ Lào.

Đại tá Phạm Hữu Thắng (Ghi theo lời kể của Thượng tướng Nguyễn Chơn).

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.